Nạp âm thủ tượng: hiểu thêm về 60 giáp tý

Người xưa dựa vào tính chất của can chi, Ngũ hành, phối hợp sáu mươi Giáp Tý với Ngũ hành, dùng cách giải thích và định nghĩa mang tính tỷ dụ để thể hiện cát hung, phú quý của đời người. Đó chính là nạp âm thủ tượng. Nó là một khái niệm và phương pháp quan trọng của cuốn sách này, cũng là một bộ phận quan trọng tạo thành thuật đoán mệnh dựa trên can chi và Ngũ hành. Bởi vậy, cần phải tìm hiểu tường tận về nó.

Hải Trung Kim, Kim Bạc Kim, Bạch Lạp Kim, Sa Trung Kim, Kiếm Phong Kim, Thoa Xuyến Kim
Tại sao Giáp Tý, Ất Sửu lại được tỷ dụ thành Hải Trung Kim? Bởi vì khí Âm Dương của chúng vẫn ẩn tàng, không hiển lộ, chỉ nghe thấy tên mà không nhìn thấy hình, giống như con người ở trong cơ thể người mẹ. Khí Âm Dương của Nhâm Dần, Quý Mão chưa suy yếu, hình thể cũng tương đối yếu ớt nên gọi là Kim Bạc Kim. Canh Thìn, Tân Tỵ ở Hoả, trong vị trí của Thổ, khí Âm Dương muốn thoát ra, nhưng Kim thai nghén ở trong khoáng chất, lại mang màu trắng của phương tây nên gọi là Bạch Lạp Kim. Khí Âm Dương của Giáp Ngọ, Ất Mùi đã sinh thành, vật chất đã trở nên rắn chắc. Kim ở trong cát nhưng không phải là cát, được nung qua lửa nên gọi là Sa Trung Kim. Khí Âm Dương của Nhâm Thân, Quý Dậu rất lớn mạnh, là thời điểm mũi nhọn của Kim đã sắc bén, nên tỷ dụ thành Kiếm Phong Kim. Đến Tuất, Hợi thì khí Kim bắt đầu dần ẩn tàng, hình thể cũng bị phá huỷ, nên Canh Tuất và Tân Hợi được gọi là Thoa Xuyến Kim.

Tang Chá Mộc, Tùng Bách Mộc, Đại Lâm Mộc, Dương Liễu Mộc, Thạch Lựu Mộc và Bình Địa Mộc
Tại sao lại tỷ dụ Nhâm Tý và Quý Sửu thành Tang Chá Mộc? Đại khái là bởi vì khí Mộc của chúng ở nơi quanh co, hình thể không vươn thẳng, đồng thời lại sinh trưởng ở nơi đất ẩm ướt, là tháng tằm tơ suy thoái, cây dâu tằm (tang chá) thụ khí và sinh ra trong thời điểm đó. Khí Mộc của Canh Dần và Tân Mão đã hấp thụ khí Dương, phát triển mạnh mẽ, hơn nữa lại ở dưới Kim tính chất cứng rắn nên gọi là Tùng Bách Mộc. Khí Mộc của Mậu Thìn và Kỷ Tỵ tuy không mạnh, lại đang sinh trường, cành lá rậm rạp, um tùm nên gọi là Đại Lâm Mộc. Nhâm Ngọ và Quý Mùi, Mộc đến phương vị Ngọ thì sẽ chết, đến phương vị Mùi thì sẽ vào mộ. Cây dương liễu đến mùa hạ thì rụng lá, cành lá khô héo, tính chất của nó mềm yếu nên gọi là Dương Liễu Mộc. Canh Thân và Tân Dậu, Ngũ hành thuộc Kim mà nạp âm thuộc Mộc. Khí Dương của Thân và Dậu suy yếu và lại điêu tàn, vạn vật đã thành tựu, Mộc ở phương vị của Kim, có vị cay đắng. Chỉ có cây thạch lựu có tính cay, đắng. Bởi vậy, Canh Thân và Tân Dậu được gọi là Thạch Lựu Mộc. Những loại cây khác đến phương vị Ngọ sẽ chết, chỉ có cây thạch lựu đến phương vị Ngọ lại vẫn rất tươi tốt. Mậu Tuất và Kỷ Hợi, khí Mộc đã ẩn tàng, Âm Dương đã đóng, khí Mộc đã quay về gốc cây, ẩn tàng trong đất nên gọi là Bình Địa Mộc.

Giản Hạ Thuỷ, Đại Khê Thuỷ, Trường Lưu Thuỷ, Thiên Hà Thuỷ, Tỉnh Tuyền Thuỷ và Đại Hải Thuỷ
Tại sao Bính Tý và Đinh Sửu được tỷ dụ thành Giản Hạ Thuỷ? Đại khái là vì khí của Thuỷ vẫn chưa hình thành, Thuỷ chẳng đến những chỗ thấp, ẩm ướt nên gọi là Giản Hạ Thuỷ. Giáp Dần và Ất Mão, trong khí của Thuỷ có ẩn tích tụ khí Dương, Thuỷ chảy từ đầu nguồn, hướng về phương đông, thế của Thuỷ dần lớn mạnh nên gọi là Đại Khê Thuỷ. Nhâm Thìn và Quý Tỵ, thế của Thuỷ đến phương đông nam, khí ở gần sao của cung Ly, thế của Thuỷ mạnh mẽ, không bao giờ khô cạn nên gọi là Trường Lưu Thuỷ. Bính Ngọ và Đinh Mùi, khí của Thuỷ tăng lên đến phương vị Hoả, nước mưa nhiều mà rơi xuống thành mưa, rơi xuống trong Thuỷ ở phương vị Hoả. Loại Thuỷ này chỉ có ở trên trời nên gọi là Thiên Hà Thuỷ. Giáp Thân và Ất Dậu, khí của Thuỷ bắt đầu nghỉ ngơi ở nơi yên tĩnh. Thân và Dậu thuộc Kim, Kim sinh Thuỷ, nguồn của Thuỷ không bao giờ cạn nên gọi là Tỉnh Tuyền Thuỷ. Nhâm Tuất và Quý Hợi là phương vị của thiên môn, khí của Thuỷ đã dần đóng, Thuỷ phân bố ở khắp nơi, thế của Thuỷ dần quay về nơi yên tĩnh; Đến nó thì không cùng tận, nạp thêm Thuỷ thì không đầy tràn nên gọi là Đại Hải Thuỷ.

Tích Lịch Hoả, Lô Trung Hoả, Phúc Đăng Hoả, Thiên Thượng Hoả, Sơn Hạ Hoả và Sơn Đầu Hoả
Tại sao tỷ dụ Mậu Tý và Kỷ Sửu thành Tích Lịch Hoả? Đại khái là bởi khí của Hoả chứa đựng khí Dương, lại ở phương vị của Thuỷ. Chỉ có rồng thần mới có thể làm cho trong Thuỷ có Hoả, nên gọi là Tích Lịch Hoả. Bính Dần và Đinh Mão, khí của Hoả dần bốc lên, thêm củi vào thì khí của Hoả càng vượng, hơn nữa dựa vào sự trợ giúp của Âm Dương, trời đất giống như một lò lửa, nên gọi là Lô Trung Hoả. Giáp Thìn và Ất Tỵ, khí của Hoả đã lớn mạnh, thế của Hoả đã vững chắc, phương vị Thìn và Tỵ kế tiếp nhau, nguồn của Hoả không cạn nên gọi là Phúc Đăng Hoả. Mậu Ngọ và Kỷ Mùi, khí của Hoả đi qua cung Dương, lại gặp cung Ly, Hoả toả sáng bốc cháy lên trên, nên gọi là Thiên Thượng Hoả. Bính Thân và Đinh Dậu, khí của Hoả nghỉ ngơi và ẩn tàng, thế của Hoả cũng suy yếu. Hơn nữa, giờ Thân và Dậu, mặt trời đã lặn xuống núi, phản chiếu ánh sáng qua những đám mây nên gọi là Sơn Hạ Hoả. Tại sao lại gọi Giáp Tuất và Ất Hợi là Sơn Đầu Hoả? Núi (sơn) có thể ẩn giấu hình thể, đầu lại có thể hiển thị ánh sáng. Loại ánh sáng này là trong sáng ngoài tối, ẩn tàng không hiển lộ, nên gọi là Sơn Đầu Hoả.

Bích Thượng Thổ, Thành Đầu Thổ, Sa Trung Thổ, Lộ Bàng Thổ, Đại Dịch Thổ và Ốc Thượng Thổ.
Tại sao lại tỷ dụ Canh Tý và Tân Sửu thành Bích Thượng Thổ? Bởi vì khí của Thổ vẫn đóng mà không lưu thông, sự vật vẫn ở trong trạng thái ẩn tàng không hiển lộ, hình thể bị che lấp, bên trong và bên ngoài không thể tiếp xúc với nhau nên gọi là Bích Thượng Thổ. Mậu Dần và Kỷ Mão, khí của Thổ đã hình thành, bắt đầu nuôi dưỡng vạn vật, đến khí gốc vững chắc, cành lá um tùm, nên gọi là Thành Đầu Thổ. Bính Thìn và Đinh Tỵ, khí của Thổ hàm chứa khí Dương, đã đặt nền móng cho sự sinh trưởng của vạn vật, nên gọi là Sa Trung Thổ. Canh Ngọ và Tân Mùi, khí của Thổ đã vượng, có thể chở vạn vật, có các loài sinh vật hiển hiện trên Thổ, nên gọi là Lộ Bàng Thổ. Mậu Thân và Kỷ Dậu, khí của Thổ bắt đầu thu tàng, nghỉ ngơi, vạn vật tàn tạ, khô héo, Thổ không còn tác dụng gì nữa, nên gọi là Đại Dịch Thổ. Bính Tuất và Đinh Hợi, khí của Thổ ẩn tàng trong vạn vật, đã mang hình thể của Âm Dương, tác dụng của Thổ đã kết thúc tốt đẹp, nên gọi là Bích Thượng Thổ, Thành Đầu Thổ, Sa Trung Thổ, Lộ Bàng Thổ, Đại Dịch Thổ và Ốc Thượng Thổ.

Chúng ta thấy trong Lộ Bàng Thổ trồng các loại cây, không phải là ở vị trí của Ngọ và Mùi có thể nuôi dưỡng vạn vật lâu dài sao? Đại Dịch Thổ có ở khắp nơi, ở phương vị của Thân và Dậu phải chăng có nghĩa là gặp bạn mà được lợi? Thành Đầu Thổ có tác dụng phòng thủ. Quân vương dùng nó để xây dựng đất nước, bảo vệ dân chúng. Bích Thượng Thổ có tác dụng trang trí, quan lại và dân chúng đều dùng nó, dùng để ở rất thoải mái. Sa Trung Thổ là ẩm ướt nhất, có thể dùng để nuôi dưỡng vạn vật. Ốc Thượng Thổ thể hiện rõ nhất công dụng của Thổ. Do nó đã được cố định thành nhà ở, yên tĩnh mà không dễ bị di chuyển. Thổ trong Ngũ hành có tác dụng chở vật thể và thai nghén vạn vật. Trời, đất và con người đều không thể tách rời khỏi Thổ. Dù ở nơi nào, Thổ cũng có tác dụng tất yếu. Trong bốn mùa đều không thể thiếu Thổ. Kim có Thổ thì sẽ sắc nhọn. Hoả có Thổ thì sẽ bốc cháy toả sáng. Mộc có Thổ thì sẽ tươi tốt. Thuỷ có Thổ thì sẽ không ngừng nổi sóng, không bao giờ khô cạn. Bản thân Thổ còn khiến cho các vụ mùa bội thu. Tập hợp Thổ lại, không phân tán thì sẽ thành núi cao. Thổ phân tán không tập hợp thành đống thì sẽ trở thành đồng bằng rộng lớn. Thổ dùng không bao giờ hết, mà còn không ngừng tăng lên. Công dụng của Thổ thật là to lớn!

(5268)