Ngôn ngữ hình ảnh của Phật giáo Tây Tạng

Chư tôn trong thang-ka đều có những trạng thái chứng ngộ và sứ mệnh riêng, thông qua những hình ảnh như nét mặt, tư thế cơ thể, phục sức và pháp khí trong tay để truyền đạt đến những kẻ tu hành.

Thang-ka là biểu hiện cụ thể của tư tưởng Phật pháp
Phật pháp vào giai đoạn bắt đầu được truyền bá vô cùng đơn giản, dễ hiểu, nhưng trải qua một quá trình phát triển lâu dài, dần dần đã hình thành nên những nghĩa lý vô cùng sâu sắc. Sự truyền đạt qua văn tự không thể hiểu được một cách dễ dàng, do đó, mọi người dần dần đã sử dụng phương pháp dùng hình ảnh (Icon) để biểu đạt và giải thích. Thang-ka của Phật giáo Tây Tạng đã sử dụng hình ảnh để biểu đạt những nghĩa lý trừu tượng cao độ. Đằng sau mỗi hình ảnh thường ngầm ẩn một nghĩa lý đặc thù, có thể coi đó là công cụ vô cùng quan trọng để tìm hiểu về việc truyền bá Phật giáo Tây Tạng.

Ví dụ như chuỳ kim cương (Vajra) trong thang-ka, nguyên là một loại binh khí của Ấn Độ cổ đại, nhưng khi xuất hiện trong thang-ka lại tượng trưng cho hai hàm ý, đó là “kiên cố lâu bền, vĩnh hằng bất biến” và “từ bi”. Cũng giống như những biển báo giao thông mà chúng ta vẫn bắt gặp hàng ngày, khi bạn nhìn thấy hình ảnh một người phụ nữ dắt tay đứa trẻ, thì nó không chỉ là một hình vẽ, mà nhằm truyền đạt một ý nghĩa là “coi chừng trẻ nhỏ”, đó chính là sự khác nhau giữa hình tượng và tranh vẽ.

Pháp khí tượng trưng cho nhiệm vụ của chư tôn trong thang-ka
Những nhân vật chính trong thang-ka của Phật giáo Tây Tạng thường là các chư tôn như chư Phật, Bồ tát và thần hộ pháp, chư tôn đều có các trạng thái chứng ngộ của riêng mình, đồng thời mỗi người đều có nhiệm vụ và bài học riêng để truyền đạt, thông qua nặt, điệu bộ cơ thể, phục sức và pháp khí trong tay để truyền đạt những điều đó cho những người tu hành quán tưởng. Những người tu hành thông qua những hình ảnh của thang-ka, có thể giải mã một cách chính xác và nắm bắt được các nghĩa lý cần truyền đạt ẩn sâu đằng sau những hình ảnh, từ đó tiến hành học tập các loại tu trì, cuối cùng đạt đến chứng ngộ. Ví dụ, Bồ tát trong thang-ka là đại diện của từ bi, chư Phật là đại diện cho trí tuệ. Những vị thần hộ pháp phẫn nộ giống như những sĩ quan huấn luyện nghiêm khắc, tượng trưng cho phục ác. Nhưng, chúng ta cũng có thể nhìn thấy những vị thần hộ pháp có khuôn mặt hung dữ lại mặc trang phục Bồ tát lộng lẫy; còn có một số đầu đội mũ ngọc ngũ trí, trên người mặc trang phục Bồ tát, nhìn vừa giống Phật vừa giống Bồ tát, những nhân vật như vậy có ý nghĩa như thế nào? Trong tay cầm chuỳ kim cương và trong tay cầm ngọc ma ni sẽ truyền đạt những tín hiệu khác nhau ra sao?

Do đó, điều quan trọng nhất khi giải mã thang-ka là phải phân biệt chư tôn trong tranh và những thông tin mà họ truyền đạt. Nhưng phải làm thế nào để nhận ra được những nghĩa lý và sứ mệnh mà chư tôn thang-ka muốn truyền đạt? Điều đó chủ yếu được thể hiện thông qua ngoại hình, thủ ấn và những pháp khí trong tay chư tôn.

(1639)